Các bệnh đường hô hấp thương gặp lúc giao mùa

bệnh đường hô hấp

Bệnh đường hô hấp là gì?

Bệnh đường hô hấp trên bao gồm: mũi, hầu họng, thanh quản và đoạn khí quản và vùng hạ thanh môn.

Viêm hô hấp trên là bệnh lý thường gặp nhất ở trẻ em và cũng là nguyên nhân hàng đầu đưa trẻ đến khám bệnh. Bệnh có thể thay đổi từ nhẹ, tự giới hạn đến tình trạng nguy kịch, diễn tiến nhanh, cần xử trí cấp cứu đặc hiệu.

bệnh đường hô hấp

1. Cảm lạnh – bệnh đường hô hấp

Cảm lạnh là bệnh lý mắc phải do nhiễm siêu vi ở đường hô hấp trên gây ra tình trạng viêm ở mũi thường kèm theo viêm niêm mạc xoang (4 viêm niêm mạc họng), bệnh tự giới hạn với các triệu chứng tại mũi (sổ mũi, nghẹt mũi) chiếm ưu thế.

Triệu chứng bệnh cảm lạnh

Bệnh đường hô hấp – Bệnh giới hạn trong vòng 1 tuần, 10% trường hợp kéo dài đến 2 tuần.  Diễn biến điển hình của một trường hợp cảm lạnh thông thường chưa có biến chứng bội nhiễm

  • Sốt: sốt nhẹ hoặc không sốt, xuất hiện sớm từ ngày đầu tiên kèm theo toàn thân (nhức đầu, mỏi cơ), đau ngứa họng và hết trong vòng 48 giờ, sau đó chứng hô hấp bắt đầu chiếm ưu thế.
  • Triệu chứng tại mũi (sổ mũi, nghẹt mũi): xuất hiện từ ngày 2-3. Chất tiết mũi – đổi trong quá trình bệnh. Số mũi vàng/xanh là do sự gia tăng số lượng bạch cầu đa. trong chất tiết mũi, không liên quan đến bội nhiễm vi khuẩn.
  • Ho: thường xuất hiện sau triệu chứng mũi và hết sau cùng.
  • Triệu chứng hô hấp rầm rộ nhất từ ngày 3-6, sau đó giảm dần và kết thúc trong vòng 10-14 ngày.

Triệu chứng thực thể: niêm mạc mũi phù nề, đỏ. Có thể có họng đỏ, tuy nhiên, amidan không sưng và không có mủ, họng không loét. Triệu chứng chỉ giới hạn ở đường hô hấp trên, không có triệu chứng ở thanh quản, khí quản hay đường hô hấp dưới.

bệnh đường hô hấp

2. Viêm xoang cấp – Bệnh đường hô hấp

viêm xoang cấp khi bệnh kéo dài < 30 ngày. Có hai nguyên nhân gây viêm xoang cấp thường gặp là nhiễm siêu vi và nhiệm vị trùng. Trong đó, viêm mũi xoang do siêu vi gặp trong bệnh cảm lạnh. Bệnh đường hô hấp – viêm xoang cấp do vi trùng. Bệnh thường gặp, có thể xảy ra bất cứ tuổi nào, kể cả nhũ nhi, nhưng phổ biến nhất từ 4-7 tuổi, ít gặp < 2 tuổi.

Triệu chứng bệnh viêm xoang cấp

Diễn biến lâm sàng là yếu tố quan trọng giúp chẩn đoán viêm xoang do vi khuẩn. Ba bệnh cảnh thường gặp là:

  • Triệu chứng nặng lúc khởi phát: ngay từ khi khởi phát bệnh đã có sốt >39°C kèm sổ mũi vàng/xanh 23 ngày liên tiếp.
  • Bệnh nặng lên (biểu hiện hai pha) sau giai đoạn cải thiện trước đó (thường vào ngày 6-7) với:
  • Triệu chứng hô hấp nặng lên, hoặc + Xuất hiện thêm triệu chứng: sốt lại hoặc ho ban ngày hoặc sổ mũi vàng/xanh hoặc nhức đầu dữ dội.

Các triệu chứng ít gặp hơn: hơi thở hôi, giảm cảm nhận mùi, phù quanh hốc mắt. Ngoài ra, còn có thể đau đầu, đau mặt, đau răng hàm trên tầng khi cúi về trước.

Khám thấy niêm mạc mũi sung huyết, phù nề. Ấn đau vùng hàm trên (viêm xoang hàm) và trán (viêm xoang trán) có thể gặp ở trẻ vị thành niên, hiếm gặp. Soi xoang thấy dấu hiệu mờ Xoang.

bệnh đường hô hấp

3. Viêm họng cấp – viêm Amidan cấp

Bệnh đường hô hấp – viêm họng cấp chủ yếu là do:

– Siêu vi: chiếm đa số

– Vi khuẩn: Streptococcus group A (liên cầu tiêu huyết nhóm A, Streptococcus pyogenes, GAS) là tác nhân quan trọng nhất và cũng chiếm tỉ lệ cao nhất trong tổng số trường hợp viêm họng do vi khuẩn, chiếm 15-30%, ít gặp < 2-3 tuổi, thường gặp ở trẻ 515 tuổi. Viêm họng tăng lên vào mùa lạnh, thường vào mùa đông và xuân. Ở vùng khí hậu nhiệt đới, viêm họng do GAS xảy ra quanh năm. Yel thường bị lây từ anh chị em ruột hoặc bạn học chung.

Triệu chứng bệnh viêm họng cấp

Triệu chứng bao gồm: ho, đau họng và sốt.

bệnh đường hô hấp

 

4. Khó thở do tắc nghẽn hô hấp trên

Tắc nghẽn hô hấp trên là tắc nghẽn đường thở ngoài lồng ngực (từ mũi đến đoạn giữa khí quản), khó thở biểu hiện qua các đặc điểm sau:

  • Thở rít
  • Thì hít vào kéo dài hơn thì thở ra
  • Co kéo các cơ hô hấp tham gia thì hít vào: phập phồng cánh mũi, co lõm hõm trên ức, hõm thượng đòn, đầu gật gù theo nhịp thở, co lõm ngực, co kéo gian sườn
  • Thở chậm, sâu hơn bình thường.

Tiếp cận một trường hợp có tắc nghẽn hô hấp (Bệnh đường hô hấp) trên cần nhanh chóng nhận định bệnh nhân có đang trong tình trạng tắc nghẽn nặng hay không, cũng như loại trừ các nguyên nhân tắc nghẽn hô hấp trên cần can thiệp đặc biệt (ví dụ: viêm thanh thiệt, dị vật đường thở…) nhằm có hướng xử trí kịp thời, tránh các can thiệp làm nặng hơn tình trạng tắc nghẽn của bệnh nhân. Việc hỏi kĩ bệnh sử, thăm khám chỉ thực hiện sau khi tình trạng hô hấp đảm bảo.

bệnh đường hô hấp

5. Viêm thanh khí phế quản cấp

Viêm thanh quản là Bệnh đường hô hấp ở trẻ em thường không chỉ giới hạn ở thanh quản mà ảnh hưởng đến cả đường dẫn khí bên dưới. Tùy vị trí viêm sẽ có chẩn đoán là viêm thanh quản cấp, viêm thanh khí quản cấp hay viêm thanh khí phế quản cấp, viêm phế quản cấp.

Triệu chứng

Khởi phát bệnh với triệu chứng nhiễm siêu vi hô hấp trên bao gồm sổ mũi, họ ít và sốt nhẹ hoặc không sốt từ 1-3 ngày (thường từ 12-48 giờ) trước khi triệu chứng tắc nghẽn hô hấp rõ rệt.

Triệu chứng viêm thanh quản điển hình với họ “ông ổng”, khàn tiếng, thở rít.

Phần lớn sốt nhẹ, đôi khi có sốt cao > 39°C, một số trẻ không sốt. Chảy nước miếng và đau họng: < 10%. Triệu chứng thường nặng lên về đêm.

Bệnh kéo dài khoảng 5-7 ngày.

bệnh đường hô hấp

6. Viêm thanh nhiệt

Haemophilus influenzae type B (HiB) từng là nguyên nhân chủ yếu. Sau khi van được phổ cập rộng rãi, bệnh lan tỏa do HB giảm đến 99%. Bệnh đường hô hấp – viêm thanh nhiệt ở trẻ đã được tiêm chủ nhân gây bệnh thường gặp bao gồm GAS, S. pneumoniae, H. influenzae không phân tvn. và S. aureus … viêm thanh thiệt do HiB thường gặp ở trẻ từ 2-7 tuổi.

Triệu chứng

Bệnh đường hô hấp – Viêm thanh thiệt do HiB là bệnh tối cấp gây tử vong chỉ trong vài giờ. Đây là cấp cứu nội khoa. Ngày nay, viêm thanh thiệt giảm đáng kể nhưng vẫn chưa được loại trừ hoàn toàn, việc thiếu cảnh giác cũng như không có kinh nghiệm trong việc nhận ra bệnh cũng làm tăng nguy cơ tử vong ở bệnh nhân.

Bệnh cảnh cấp tính với sốt cao, đau họng dữ dội, thở rít. Ho “ông ổng” như trong viêm thanh quản ít gặp. Triệu chứng tiến triển rất nhanh. Trong vòng vài giờ, trẻ có biểu hiện nhiễm độc, tắc nghẽn hô hấp trên nặng. Tri giác: lo lắng, hốt hoảng. Không nuốt được, chảy nước miếng là triệu chứng phổ biến (gặp trong 80% viêm thanh thiệt, trong khi chỉ 10% viêm thanh quản có triệu chứng này). Trẻ không chịu nằm. Ngồi với tư thế “kiềng ba chân” (ngồi thẳng, căm ngửa, cúi người ra trước, miệng thở, tay nâng đỡ thân mình) hoặc tư thế “ngửi hoa”. Nghẹt tiếng do đau và phù nề mô mềm. Thở rít tăng dần và khi nghe rõ (hoặc mất hoàn toàn) là biểu hiện tắc nghẽn gần như hoàn toàn.

Tắc nghẽn hoàn toàn gây tử vong có thể xảy ra đột ngột mà không có dấu hiệu báo trước. Nhiễm HiB lan tỏa đến cơ quan khác gặp trong 50% trường hợp, bao gồm viêm màng não, viêm tai giữa, viêm phổi và viêm mô tế bào.

bệnh đường hô hấp

Trên đây là những chia sẻ của thuocsionline.vn về các bệnh đường hô hấp dễ mắc phải vào mùa hè.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

1