3 Bệnh ở trẻ em nguy hiểm thường mắc vào mùa hè

Bệnh ở trẻ em

1. Viêm phổi – Bệnh ở trẻ em

1.1 Viêm phổi là gì?

Viêm phổi là tình trạng tổn thương viêm nhu mô phổi, có thể lan tỏa cả hai phổi hoặc tập trung ở một thùy phổi. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), viêm phổi bao gồm viêm phế quản phổi, viêm phổi thùy và áp-xe phổi.

Viêm phổi cộng đồng được định nghĩa là viêm phổi – bệnh ở trẻ em vốn đang khỏe mạnh bị nhiễm bệnh từ cộng đồng (ngoài bệnh viện) hoặc trong vòng 48 giờ đầu tiên nằm viện.

1.2 Thống kê về viêm phổi –  Bệnh ở trẻ nhỏ

Viêm phổi là nguyên nhân gây tử vong trẻ em nhiều nhất trên thế giới, viêm phổi giết chết trẻ em nhiều hơn tổng số trẻ tử vong do AIDS (Acquired Immune Deficiency Syndrome), sốt rét và lao. WHO tước tính hàng năm có khoảng 15 triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong trên toàn thế giới, trong đó viêm phổi là nguyên nhân chính (với 92.000 trẻ mỗi năm), tử vong 99% xảy ra ở các nước có thu nhập thấp như châu Phi và Nam Á.

Ở các nước phát triển, tỉ lệ viêm phổi hàng năm là khoảng 3-4 đợt/100 trẻ dưới 5 tuổi. Ở các nước đang phát triển, chỉ số mới mắc của bệnh ở trẻ em, lứa tuổi này là 29 đợt bệnh/100 trẻ/năm, cao gần 10 lần so với các nước phát triển. Trong số các trường hợp viêm phổi, có 7-13% trẻ có dấu hiệu nặng hoặc đe dọa tính mạng cần được nhập viện.

Trong những năm gần đây, tỉ lệ tử vong do viêm phổi có giảm nhờ sự ra đời các vaccin chống Haemophilus influenzae type B (HiB), phế cầu và sởi. Mặc dù viêm phổi do vi khuẩn và siêu vi xảy ra quanh năm nhưng thường phổ biến vào mùa lạnh, hay mùa mưa, có thể do lây truyền qua những giọt nhỏ chứa tác nhân gây bệnh bắn ra không khí. Viêm phổi do vi khuẩn xảy ra sau nhiễm siêu vi hô hấp thường nặng nề và khó điều trị hơn.

1.3 Nguyên nhân gây bệnh

 Không do vi sinh

Hít, sặc các chất (thức ăn, dịch vị, dị vật, dầu hội), do – hoặc chất phóng xạ.

 Do vi sinh

Trong các tác nhân siêu vi gây viêm phổi thì siêu vi hô hấp hợp bào (Respiratory syncytial virus) là tác nhân thường gặp nhất, gây viên trong bệnh cảnh viêm tiểu phế quản.

Tại Việt Nam, phế cầu vẫn là tác nhân vi khuẩn thường gặp nhất,  bệnh trẻ em trên 1 tuổi.

1.4 Các biện pháp phòng ngừa

Dự phòng chung

Bảo vệ sức khỏe bà mẹ khi có thai, khám thai đầy đủ để the những tai biến, giảm tỉ lệ sinh non, sinh nhẹ cân.

Bảo đảm vệ sinh môi trường nhất là khu vực chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, các chế độ vô trùng khi đỡ đẻ và chăm sóc trẻ sơ sinh.

Trẻ phải được bú mẹ và ăn dặm đúng.

Tiêm chủng phòng bệnh ở trẻ em đúng lịch quy định.

Tránh khói thuốc lá.

Phát hiện và xử trí kịp thời các trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp cấp.

Khi có người mắc bệnh, cách ly kịp thời để tránh lây lan cho trẻ.

Dự phòng đặc hiệu

Chủng ngừa các tác nhân thường gây viêm phổi theo tuổi: virus cúm, á cúm, thủy đậu, Hemophilus influenza type B, phế cầu, não mô cầu, …

Tiêm chủng cho trẻ em dưới 2 tuổi giúp giảm tỉ lệ viêm phổi hơn 10 lần.

Khuyến khích mở rộng tiêm vaccin cúm cho tất cả trẻ em> 6 tháng tuổi được kỳ vọng sẽ ảnh hưởng đến tỉ lệ viêm phổi nhập viện.

2. Tiêu chảy cấp – Bệnh ở trẻ em 

2.1 Bệnh tiêu chảy là gì?

Bệnh tiêu chảy (hay còn gọi là viêm dạ dày ruột – Gastroenteritis) là tình trạng viêm dày ruột, thường được nhận biết bằng ba biểu hiện lâm sàng chính: tiêu chảy cấp. Hội chứng lý và tiêu chảy kéo dài. Tiêu chảy là một trong những gánh nặng bệnh tật, nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất bệnh ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn cầu. Bài này chủ yếu nói về tiêu chảy cấp.

Tiêu chảy được định nghĩa là tình trạng đi tiêu phân lỏng bất thường hay toàn nước từ 3 lần trở lên trong 24 giờ. Ở trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ bú mẹ, việc đi tiêu phân lợn cợn nhiều lần trong ngày vẫn được xem là bình thường. Để xác định có tiêu chảy hay không

những trẻ này, sự thay đổi tính chất phân được xem là quan trọng hơn là số lần đi tiêu trong ngày. – Tiêu chảy cấp là khi tiêu chảy không quá 14 ngày. Tiêu chảy từ 14 ngày trở lên gọi là tiêu chảy kéo dài. Một số tài liệu còn định nghĩa tiêu chảy từ 30 ngày trở lên gọi là tiêu chảy mạn tính. Hội chứng lỵ là khi bệnh ở trẻ em đi tiêu phân lỏng kèm có máu trong phân.

2.2 Nguyên nhân gây bệnh

Có thể chia làm hai nhóm lớn: nhiễm trùng và không nhiễm trùng, trong đó nhóm nhiễm trùng chiếm đa số.

–  Rotavirus là tác nhân hàng đầu gây tiêu chảy cấp ở trẻ em trên toàn cầu. Tỉ lệ nhi rotavirus ở trẻ tiêu chảy cấp nhập viện dao động từ 35-60% tuỳ quốc gia. Tại Việt Nam, số liệu nghiên cứu của mạng lưới giám sát tiêu chảy do rotavirus cho thấy có 45-55% trẻ nhập viện dương tính với rotavirus trong phân. Norovirus là tác nhân đứng thứ hai trong nhóm, thường gây những đợt dịch tại các cơ sở như trường học, tàu du lịch dài ngày, nhà hàng, … Ngoài ra, adenovirus type 40, 41 và enterovirus cũng là các nguyên nhân có thể gặp.

– Vi khuẩn thường gây bệnh ở trẻ em – tiêu chảy cấp là Salmonella nontyphi, Shigella, E. coli, Campylobacter và Yersinia. Vibrio cholerae có thể gây những đợt dịch tà, đoàn nhanh, tiêu chảy ồ ạt, dễ mất nước và tử vong. Clostridium difficile có thể nhiên bệnh viện hay ngoài cộng đồng, đặc biệt gây nên bệnh cảnh viêm đại tràng giả mạc

– Entamoeba histolytica, Giardia intestinalis và Cryptosporidium opp nhân thường gặp

2.3 Biện pháp phòng ngừa

– Bú mẹ hoàn toàn cho đến 6 tháng tuổi và tiếp tục cho đến 24 tháng là biện pháp hữu hiệu giúp giảm nguy cơ tiêu chảy bệnh ở trẻ em. Bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời giúp giảm tử vong ở trẻ sinh non và giảm 12% nguy cơ tử vong nói chung ở trẻ em dưới 5 tuổi.

  • Ăn dặm đúng cách: nên tiến hành khi bé tròn 6 tháng tuổi, song song với tiếp tục, bú mẹ cho đến 24 tháng. Việc ăn dặm phải hợp lý, phù hợp sinh lý của trẻ, hợp vệ sinh và đầy đủ chất bổ dưỡng. Thức ăn dặm ở các nước đang phát triển thường nghèo chất dinh dưỡng và dễ lây nhiễm nên là nguyên nhân tiềm ẩn gây tiêu chảy bệnh ở trẻ em. Cung cấp đủ vitamin A cũng là một biện pháp giúp giảm nguy cơ tiêu chảy nặng. Bổ sung vitamin A giúp giảm 25% tỉ lệ tử vong nói chung và giảm 30% tỉ lệ tử vong do tiêu chảy.
  • Vaccin: hiện đã có vaccin ngừa tiêu chảy do Rotavirus với mục đích phòng ngừa tiêu chảy nặng do tác nhân hàng đầu này và giảm tỉ lệ nhập viện, giảm tử vong. Hiện có hai loại vaccin Rotavirus lưu hành là vaccin đơn giá (GIP) và vaccin ngũ giá (G1, G2, G3, G4 và P1A[8]). Cả hai vaccin đều đã chứng minh tính hiệu quả và an toàn sau khi được đưa vào sử dụng từ năm 2006. Ngoài ra, còn có các vaccin ngừa tả, Shigella và ETEC chỉ sử dụng khi có dịch hay trong các ca cụ thể. Việc sử dụng vaccin ngừa torong vùng đang có dịch giúp giảm 52% tỉ lệ mắc tả.

– Cải thiện nguồn nước, vệ sinh môi trường và vệ sinh tay: sở dĩ các nước đã phát triên đã giảm tỉ lệ tiêu chảy là nhờ phần lớn vào việc cải thiện nguồn nước, vệ sinh cá nhân và môi trường. Cải thiện chất lượng nước giúp giảm tỉ lệ tiêu chảy 17%, trong khi vệ sinh tay bằng xà phòng giúp giảm nguy cơ tiêu chảy đến 48% bệnh ở trẻ em.

3. Chân tay miệng – Bệnh ở trẻ em 

 3.1 Bệnh chân tay miệng là gì?

Bệnh tay chân miệng là một bệnh ở trẻ em nhiễm khuẩn cấp tí đường ruột thuộc chỉ Enterovirtus gây nên. Tác nhân gây bã Corsakievirus 46 (CA16) và Enterovirus 71 (EV7). Nhiễm, bệnh cảnh lâm sàng nặng nề cho trẻ và thậm chí có thể dẫn đến tử vong.

Định nghĩa ca lâm sàng của bệnh tay chân miệng có một trong hai tiêu chuẩn sau:

– Phát ban điển hình của bệnh tay chân miệng

– Loét miệng dưới 7 ngày

3.2 Nguyên nhân gây bệnh

Những tác nhân gây bệnh tay chân miệng thường gặp năm trong họ Picorn chí Enterovirus, loài Enterovirus A gây bệnh ở người (Human enteroviruses species | HEV-A), đặc biệt là hai tác nhân đã nêu trên, CA16 và EV71. Một số HEV-A khác nhau Coxsackievirus 46, Cossackievirus 410 và Cossackievirus A12 cũng có thể gây bệnh ở trẻ em tay chân miệng nhưng ít gặp hơn. Trong khi hầu hết các virus này gây bệnh cảnh nhẹ ở trẻ em, EV71 có khả năng gây các biến chứng thần kinh thậm chí dẫn đến tử vong và tạo nên các trận dịch tay chân miệng lớn ở vùng châu Á – Thái Bình Dương trong vài thập niên gần đây, trong đó có Việt Nam. Các virus thuộc chi Enterovirus mang đặc điểm những virus nhỏ với virion có đường kính chỉ khoảng 30 nm, cấu tạo với Don protein cấu trúc chính: VP1, VP2, VP3, VP4. VP1 là thành phần protein chính của bề mệt virion, trong khi đó, VP4 nằm ẩn bên dưới nên không thể hiện ra trên bề mặt.

3.3 Biện pháp phòng ngừa

Tại Trung Quốc, tháng 12/2015, đã có một số vaccin bất h được chấp nhận sử dụng. Một số nghiên cứu ở pha III cho thấg aiON IN trong việc phòng ngừa bệnh tay chân miệng và biến chứng của bà EV71 subgenotype C4. Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào rẻ vaccin này có thể gây đáp ứng miễn dịch chéo đối với các tác nhân F ngoài EV71 hay không, cũng như hiệu quả bảo vệ kéo dài bao lâu sau Ngoài ra, cũng đã có những nghiên cứu về vaccin phòng bệnh đang được Đài Loan, Singapore.

Hiện tại, ở Việt Nam vẫn chưa có vaccin phòng ngừa bệnh tay chân miệng biện pháp phòng ngừa chính vẫn là vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà bông (nhất là khi thay quần áo, tã lót cho trẻ, sau khi tiếp xúc với phân, nước bọt), rửa sạch đồ chơi. vật dụng, sàn nhà bằng cloramin B hoặc nước javel, cách ly trẻ bệnh trong vòng 7-10 ngày bắt đầu từ thời điểm khởi bệnh ở trẻ em. Để biết thêm chi tiết về bệnh ở trẻ em. Xem thêm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

1